⇐ Văn hóa / Tôn giáo

Sự trình bày ⇒

Du lịch / Vận chuyển

Kinh tế

Tổng quát

Nước Hà Lan có một hệ thống kinh tế cởi mở và hoạt động tốt. Từ những năm 1980 chính phủ đã rút lại các can thiệp về kinh tế của nhà nước. Công nghiệp hóa và công nghiệp thực phẩm, lọc dầu và sản xuất thiết bị điện thống lĩnh trong lãnh vực sản xuất. Trước các nước láng giềng một thời gian dài, đất nước này đã có một ngân sách quốc gia cân đối và đấu tranh chống trì trệ trong thị trường lao động có hiệu quả.

Được công nghệ hóa cao và hiện đại, nền nông nghiệp đặc biệt có năng suất rất cao: bên cạnh việc trồng ngũ cốc, rau cải, cây ăn trái và hoa – việc trồng hoa uất kim cương (hoa tu líp) đã có ảnh hưởng đến cả lịch sử của đất nước – là nuôi bò sữa trên quy mô lớn, là cơ sở cho phó mát, một sản phẩm xuất khẩu quan trọng. Nền nông nghiệp Hà Lan tạo việc làm cho gần 4% người lao động nhưng lại góp phần quan trọng trong xuất khẩu. Sau Mỹ và Pháp, Hà Lan là nước xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp lớn thứ ba trên thế giới.

Từ thế kỷ 16, Hà Lan đã theo kinh tế thị trường, tự do hóa nền kinh tế - thương mại, có đội thương thuyền mạnh nhất thế giới, xâm chiếm Mỹ (còn nhiều địa danh do người Hà Lan đặt tên như phố Wall, khu Harlem, New York vốn tên là New Amsterdam...), châu Phi, Indonesia... Thế kỷ 17, Hà Lan là trung tâm tài chính lớn nhất thế giới với các tổ chức tín dụng, ngân hàng, thị trường chứng khoán đầu tiên trên thế giới. Công ty Đông Ấn Hà Lan được coi là tập đoàn xuyên quốc gia đầu tiên trên thế giới. Do vậy, thế kỷ 17 được coi là "thế kỷ Hà Lan", sau đó bị Anh, Đức, Mỹ vượt lên.

Điểm nổi bật của nền kinh tế Hà Lan là có nền công nghiệp phát triển và ổn định, tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát ở mức thấp và là cửa ngõ thông thương quan trọng ở châu Âu. Các ngành công nghiệp mũi nhọn của Hà Lan là chế biến thực phẩm, hoá chất, khai thác dầu khí và sản xuất máy móc thiết bị điện tử.

Là nước hẹp, người đông, không có nhiều tài nguyên thiên nhiên, Hà Lan chỉ có khí đốt (trữ lượng khoảng 2.680 tỷ m3), một khối lượng không lớn dầu lửa ở biển Bắc (sản lượng đáp ứng khoảng 20% nhu cầu hiện nay), nhưng đã biết sử dụng thế mạnh là một quốc gia ven biển, cửa khẩu của 3 con sông lớn ở Tây Âu và giữa các cường quốc kinh tế Anh, Pháp, Đức để phát triển các ngành dịch vụ hàng hải, cảng, vận tải sông, công nghiệp chế biến, hoá dầu… Hà Lan cũng đã tận dụng đất đai màu mỡ để phát triển nông nghiệp và ngành công nghiệp thực phẩm.

Những lĩnh vực có thế mạnh: xây dựng, hoá chất, khai thác dầu khí, công nghiệp sản xuất máy móc thiết bị điện tử, vi điện tử, chế biến nông sản, thực phẩm, đánh cá. Năm 2007, kinh tế cơ bản tiếp tục phát triển, GDP đạt 556 tỉ euro và tổng kim ngạch thương mại là 654 tỉ euro tuy nhiên từ năm 2008 kinh tế Hà Lan bị tác động mạnh của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới.

Hiện nay, với kim ngạch thương mại khoảng 1100 tỉ USD, Hà Lan là nền kinh tế đứng thứ 16 thế giới. Mấy thập niên qua, Hà Lan đã xây dựng thành công nền kinh tế tri thức. Dịch vụ chiếm 74%, công nghiệp 24% và nông nghiệp 2% GDP. 98% dân có tivi và sử dụng internet (thứ 2 thế giới sau Israel), 91% dân sử dụng máy vi tính, cao thứ 3 thế giới (sau Canada và Thụy Sĩ). Hà Lan có các tập đoàn hàng đầu thế giới như Shell (số 1 thế giới năm 2008), Philips (công ty điện tử đầu tiên trên thế giới), Unilever, Akzo Nobel, tập đoàn ING và ABN... Hà Lan chú trọng phát triển bền vững (GDP tăng 1 – 2%/năm), cân bằng sinh thái, môi trường, chất lượng cuộc sống, xây dựng các thiết chế học tập suốt đời, tuổi thọ trung bình 80 tuổi, chỉ số phát triển con người HDI 95,8% (cao thứ 6 thế giới)...

Hiện Hà Lan là một trong những nước Châu Âu bị tác động mạnh bởi khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu bắt đầu từ 2008. Mặc dù Chính phủ đã có nhiều nỗ lực (từ 2008 dành khoảng 50 tỉ euro để kích cầu tập trung vào 4 lĩnh vực chính: mua nợ xấu kèm điều kiện tăng giám sát hệ thống tài chính; mở rộng giao thông như nâng cấp cơ sở hạ tầng dài hạn, tạo việc làm, giảm thất nghiệp..; hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ là đối tượng bị tác động mạnh nhất của khủng hoảng nhưng năng động, dễ thích nghi, tạo nhiều việc làm; tăng bảo hiểm xã hội nhất là cho người già, trẻ em, người bệnh) nhưng tình hình vẫn rất khó khăn: GDP năm 2009 dự kiến giảm 4%, tăng 0% năm 2010 và có thể bắt đầu tăng trưởng từ năm 2011. Năm 2009, mặc dù vẫn chịu ảnh hưởng kinh tế suy thoái, Hà Lan vẫn xuất siêu 39 tỷ đô, là nước xuất siêu cao thứ 2 trong EU sau Đức với 135,8 tỷ đô. Tỉ lệ thất nghiệp của Hà Lan năm 2009 là 5,6% và có thể tăng đến 8% năm 2010 (tương đương 600.000 người thất nghiệp). Thâm hụt ngân sách năm 2009 là 5,3%, dự kiến thâm hụt 6% năm 2010. Nợ quốc gia dự kiến tăng lên khoảng 65,7% năm 2010.

Các chỉ số kinh tế:

  • GDP: 796,7 tỉ USD (2009)
  • GDP đầu người: 39.400 USD (2009)
  • Tăng trưởng kinh tế: - 3,9% (2009), 1,9% (2008), 3.9% (2007)
  • Thất nghiệp: 4,8% (2009)
  • Lạm phát: 1,2% (2009)
  • Nợ công: 60,9% GDP[6]

Tính đến năm 2016, GDP của Hà Lan đạt 769.930, đứng thứ 17 thế giới và đứng thứ 7 châu Âu.

Lâm nghiệp và ngư nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Rừng của Hà Lan khá khiêm tốn so với các nước châu Âu[ khá, cho nên việc sản xuất [[[gỗ]] được xếp vào loại sản xuất thứ yếu. Nhưng ngư nghiệp lại là một hoạt động truyền thống vẫn tiếp tục giữ một vai trò quan trọng, mặt dù có sự giảm trữ lượng hải sản do tình trạng ô nhiễm ở Biển Bắc. Cá thu Đại Tây Dương, cá trích Đại Tây Dương, cá bơn sao châu Âu, trai xanh, cá bơn, cá tuyết Đại Tây Dương và tôm là những loại hải sản được đánh bắt nhiều nhất, với tổng lượng lên đến 570.226 tấn năm 2001.

Sản xuất

Hà Lan có lĩnh vực sản xuất rất đa dạng, và đa số mới được bắt đầu trong thời gian gần đây vì việc sản xuất công nghiệp tương đối không còn quan trọng nữa sau Thế chiến II. Những ngành công nghiệp nặng như sản xuất sắt thép, các thiết bị vận tải và các loại máy móc lớn có mức độ quan trọng kém hơn so với các nước láng giềng. Sự tăng tướng nhanh chóng sau năm 1945 đã được dẫn đầu bởi các ngành công nghiệp hóa chất và điện tử. Cũng quan trọng không kém trong lĩnh vực sản xuất là việc chết biến thực phẩm, nước uống, các sản phẩm thuốc lá, máy móc, thiết bị vận tải (đặc biệt là cho cho các tàu buôn), sắt thép và vật liệu in ấn.

Năng lượng và khai khoáng

Cấu trúc công nghiệp của Hà Lan có liên quan mật thiết đối với các nguồn năng lượng. Trong nhiều thế kỷ đất nước này phụ thuộc chủ yếu vào các cối xay gió và than bùn để làm nguồn năng lượng. Khi những nguồn này trở nên lỗi thời thì than lại ngày càng trở nên quan trọng. Trữ lượng than ở Limburg đã cung ứng cho một phần nhu cầu của Hà Lan. Nhưng hầu hết lượng than sử dụng ở đây đều phải nhập khẩu. Xăng dầu và khí thiên nhiên đã trở nên quan trọng sau Thế chiến II. những loại nhiên liệu này cũng phải nhập khẩu, và cảng Rotterdam đã trở thành một trung tâm hàng đầu trong việc tiếp nhận và tinh chế xăng dầu.

Đến thập kỷ 1950 và 1960, Hà Lan đã phát hiện được một trữ lượng lớn khí thiên nhiên ở tỉnh Groningen. Việc sản xuất các loại khí này đã gia tăng nhanh chóng, ho phép các mỏ than cuối ùng ở đây có thể đóng cửa vào năm 1973 và biến nước này thành quốc gia xuất khẩu hàng đầu về những loại sản phẩm này. Sản lượng điện 2001 là 88,3 tỉ kilowatt giờ, trong đó 90% được sản xuất từ các nhà máy sử dụng nhiên liệu hóa thạch.

Tài nguyên thiên nhiên

Nước Hà Lan có khí đốt, được khai thác trên quy mô lớn gần Groningen cũng như là phía nam biển Bắc. Năm 1996 có 75,8 tỉ m³ (theo BP) được khai thác. Như thế Hà Lan đứng thứ 5 trên thế giới về khai thác khí đốt, sau Nga (561,1 tỉ m³), Mỹ (546,9 tỉ m³), Canada (153 tỉ m³) và Liên hiệp Anh (84,6 tỉ m³). Ngoài ra còn có trữ lượng dầu nhỏ tại vùng biên giới Emsland và mỏ muối tại Delfzijl và Hengelo. Ngoại trừ đất sét thí dụ như tại Bourtanger Moor Hà Lan không có tài nguyên khoáng sản lớn.

Chi tiêu quốc gia

Trong thời gian tỷ lệ chi tiêu quốc gia cho:

  • Hệ thống y tế-sức khỏe: 15%
  • Hệ thống giáo dục: 10%
  • Quân sự: 4%